115 năm trước, ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc ra đi ấy không chỉ mở ra con đường giải phóng dân tộc, mà còn để lại cho hôm nay một bài học lớn: mỗi bước ngoặt của đất nước đều cần bản lĩnh tìm đường, mở đường và đi đến cùng vì Nhân dân.
Cuộc ra đi mở đường cho quyền làm chủ của Nhân dân
Điều làm nên tầm vóc lớn lao của cuộc ra đi ấy không chỉ là lòng yêu nước. Vĩ đại hơn là Nguyễn Tất Thành đã biến lòng yêu nước thành một hành trình tìm kiếm con đường đúng cho dân tộc.
Nguyễn Tất Thành đã biến lòng yêu nước thành một hành trình tìm kiếm con đường đúng cho dân tộc
Người không chấp nhận những lối mòn đã bế tắc mà đi ra thế giới để hiểu thế giới, học hỏi tinh hoa nhân loại, nhận diện quy luật vận động của thời đại, từ đó tìm lời giải cho câu hỏi lớn nhất của dân tộc lúc bấy giờ: làm thế nào để nước Việt Nam được độc lập, đồng bào Việt Nam được tự do, Nhân dân Việt Nam được sống cuộc đời xứng đáng với phẩm giá con người.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không phải là một khái niệm trừu tượng. Độc lập phải gắn với tự do, hạnh phúc, với cơm ăn, áo mặc, học hành, với quyền được sống, được tham gia, được cống hiến và được thụ hưởng thành quả phát triển. Chính tư tưởng ấy đặt Nhân dân vào vị trí trung tâm của mọi lựa chọn chính trị, mọi thiết kế thể chế, mọi mục tiêu phát triển.
Từ Bến Nhà Rồng năm 1911 đến mùa Thu năm 1945 là hành trình của một dân tộc đi từ thân phận nô lệ đến làm chủ đất nước. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không chỉ là sự khai sinh của một quốc gia độc lập, mà còn là sự khẳng định quyền lực thuộc về Nhân dân. Từ người dân mất nước trở thành công dân của một nước độc lập; từ thân phận bị trị trở thành chủ thể của Nhà nước mới; từ khát vọng tự do trở thành quyền hiến định và trách nhiệm xây dựng đất nước.
Hiện nay, tinh thần từ cuộc ra đi tại Bến Nhà Rồng 115 năm trước cần được tiếp nối bằng tinh thần kiến tạo thể chế, giải phóng mọi nguồn lực phát triển, giải phóng sức sáng tạo của Nhân dân, khơi thông những điểm nghẽn đang cản trở đất nước đi nhanh hơn, xa hơn.
Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước bằng khát vọng độc lập. Chúng ta hôm nay phải tiếp tục đi tới bằng khát vọng phát triển. Bác đặt Nhân dân ở trung tâm của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta hôm nay phải đặt Nhân dân ở trung tâm của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị quốc gia và phát triển bền vững.
Đổi mới thể chế, kiến tạo phát triển
Đất nước ta đã có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng lớn. Nhưng phía trước vẫn còn những thách thức không nhỏ: chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng quản trị, hiệu quả thực thi chính sách và niềm tin xã hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La 23.
Trong bối cảnh ấy, tinh thần “tìm đường” của Bác Hồ cần được hiểu như một mệnh lệnh đổi mới. Đổi mới không chỉ là khẩu hiệu. Đổi mới là dám nhìn thẳng vào điểm nghẽn; dám sửa những gì không còn phù hợp; dám tháo gỡ những rào cản làm chậm bước phát triển; dám thiết kế cơ chế mới để khơi thông nguồn lực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, cộng đồng; dám chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, từ “xin - cho” sang phục vụ.
Đó chính là chiều sâu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Một Nhà nước mạnh không phải là Nhà nước ôm giữ mọi việc, mà là biết kiến tạo môi trường phát triển, bảo đảm kỷ cương, bảo vệ công lý, thúc đẩy sáng tạo, phục vụ nhân dân và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Một hệ thống pháp luật tốt phải minh bạch, ổn định, khả thi, dễ thực hiện, giảm chi phí tuân thủ, mở đường cho cái mới, bảo vệ cái đúng và khuyến khích người dám làm vì lợi ích chung.
Tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 ở Singapore mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu thông điệp về việc chủ động kiến tạo hòa bình, ổn định và phát triển trong một thế giới biến động sâu sắc; đồng thời chỉ ra những khủng hoảng lớn của thời đại, trong đó có khủng hoảng lòng tin, khủng hoảng mô hình phát triển và sự xói mòn của luật pháp quốc tế.
Thông điệp ấy không chỉ có ý nghĩa đối ngoại. Nhìn từ trong nước, đó cũng là lời nhắc nhở rằng muốn đất nước vững vàng giữa biến động toàn cầu, chúng ta phải xây dựng được một nền quản trị hiện đại, một hệ thống pháp luật đủ mạnh, một xã hội có niềm tin, một Nhà nước có năng lực kiến tạo và một nền dân chủ thực chất dựa trên sự đồng thuận của Nhân dân.
Bởi suy cho cùng, sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở tiềm lực kinh tế, quân sự hay vị trí địa chính trị. Sức mạnh quốc gia còn nằm ở chất lượng thể chế, ở niềm tin của Nhân dân, ở khả năng đoàn kết xã hội, ở sự minh bạch của chính sách, ở hiệu lực thực thi pháp luật, ở phẩm chất của đội ngũ cán bộ và ở năng lực biến khát vọng thành kết quả cụ thể.
Từ Bến Nhà Rồng năm 1911 đến Việt Nam hôm nay là hành trình của một dân tộc biết vượt lên số phận. Từ Việt Nam hôm nay đến Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc mai sau sẽ là hành trình của một dân tộc biết tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, củng cố niềm tin và khơi dậy sức mạnh nhân dân.
Trên hành trình ấy, ánh sáng Hồ Chí Minh vẫn soi đường; và trách nhiệm của thế hệ hôm nay là biến ánh sáng ấy thành hành động cụ thể, thành những chính sách đúng, những quyết định đúng, những đổi thay có thật, để đất nước bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế tự tin, bản lĩnh và khát vọng vươn lên mạnh mẽ.