Bảo đảm quyết định cuối cùng thuộc thẩm quyền của con người theo quy định của pháp luật; hệ thống trí tuệ nhân tạo không thay thế trách nhiệm của người ra quyết định.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 05/2026/TT-BKHCN ngày 10/3/2026 ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia. Đạo đức trí tuệ nhân tạo là hệ giá trị, nguyên tắc và chuẩn mực định hướng việc nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng trí tuệ nhân tạo nhằm bảo đảm tôn trọng con người, quyền con người, lợi ích công cộng và phát triển bền vững.
Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia gồm bảo đảm an toàn, độ tin cậy và không gây hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và đời sống tinh thần của con người. Tôn trọng quyền con người, quyền công dân, bảo đảm công bằng, minh bạch và không phân biệt đối xử trong phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Thúc đẩy hạnh phúc, thịnh vượng và sự phát triển bền vững của con người, cộng đồng và xã hội. Khuyến khích đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Đối với người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo
- Xác định rõ nhu cầu, mục tiêu sử dụng và bối cảnh; sử dụng trí tuệ nhân tạo như công cụ hỗ trợ, không thay thế hoàn toàn phán đoán của con người đối với quyết định quan trọng.
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật đời tư, thông tin mật và bí mật kinh doanh; không nhập hoặc chia sẻ thông tin nhạy cảm vào hệ thống trí tuệ nhân tạo khi chưa được phép hoặc chưa có biện pháp kiểm soát phù hợp.
- Kiểm chứng thông tin, khuyến nghị hoặc kết quả đầu ra; đặc biệt đối với nội dung liên quan đến sức khỏe, tài chính, pháp lý, danh dự, nhân phẩm hoặc đời sống tinh thần của cá nhân.
- Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo, phát tán nội dung sai sự thật, thao túng, phân biệt đối xử, xâm phạm quyền riêng tư, quyền sở hữu trí tuệ hoặc vi phạm pháp luật.
- Sử dụng các kênh phản ánh/khiếu nại khi phát hiện dấu hiệu thiên lệch, phân biệt đối xử, nội dung gây hại hoặc hành vi lạm dụng trí tuệ nhân tạo.
e) Tự nâng cao năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn và có trách nhiệm; cập nhật kiến thức về giới hạn của hệ thống, rủi ro đạo đức và quy định pháp luật có liên quan.
2. Đối với nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo
- Lồng ghép cân nhắc đạo đức trong toàn bộ vòng đời, bao gồm xác định mục tiêu, thiết kế, dữ liệu, huấn luyện, kiểm thử, triển khai, vận hành và cải tiến; ưu tiên giải pháp phòng ngừa vấn đề đạo đức từ sớm.
- Bảo đảm minh bạch phù hợp: cung cấp thông tin ở mức hợp lý về mục tiêu, phạm vi, giới hạn của hệ thống; không thổi phồng năng lực; hỗ trợ người sử dụng nhận biết khi nào có sử dụng trí tuệ nhân tạo theo quy định của pháp luật.
- Chủ động nhận diện và giảm thiểu thiên lệch; bảo đảm xem xét tác động đến nhóm dễ bị tổn thương; bảo đảm đa dạng hóa dữ liệu và nhóm phát triển.
- Bảo vệ quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân và an ninh thông tin mạng trong quá trình phát triển, cung cấp và triển khai; áp dụng biện pháp kiểm soát truy cập, lưu vết và quản lý vòng đời dữ liệu phù hợp.
- Thiết lập cơ chế giải trình và tiếp nhận phản ánh; phân định rõ trách nhiệm của các bên trong chuỗi cung ứng, bao gồm bên thứ ba, nhà thầu, đối tác; có cơ chế phối hợp khắc phục khi phát sinh vấn đề đạo đức.
- Thực hiện ban hành Bộ quy tắc đạo đức trí tuệ nhân tạo nội bộ/theo ngành, lĩnh vực.
3. Đối với cơ quan nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công
- Lồng ghép Khung đạo đức trong quá trình xây dựng, mua sắm, thuê dịch vụ, thí điểm và triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo; bảo đảm hiệu quả, minh bạch và không phát sinh thủ tục không cần thiết.
- Bảo đảm quyết định cuối cùng thuộc thẩm quyền của con người theo quy định của pháp luật; hệ thống trí tuệ nhân tạo không thay thế trách nhiệm của người ra quyết định.
- Thực hiện công khai, minh bạch phù hợp; tạo điều kiện để người dân được biết, được giải thích ở mức hợp lý và có cơ chế phản ánh, khiếu nại.
- Bảo đảm tham vấn các bên liên quan, nhất là nhóm dễ bị tổn thương; chú trọng tác động xã hội và bảo đảm tiếp cận bao trùm.
- Thực hiện đánh giá và theo dõi tác động đạo đức trong quá trình vận hành, cải tiến; tích hợp với các báo cáo, hồ sơ hiện có để tránh trùng lặp.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2026